Bản tiếng Việt
Chương 26
Hằng năm, cứ đến ngày mười lăm tháng Mười, Đại lộ Số Năm lại mở cửa chớp, trải thảm và treo lên cửa sổ ba lớp rèm. Đến mồng một tháng Mười Một, nghi thức gia đình ấy hoàn tất, và giới thượng lưu ai về chỗ nấy, sửa soạn cho mùa hội mới. Đến ngày mười lăm tháng Mười Một, mùa hội đã vào guồng: nhà hát opera và các rạp trình làng vở mới, những cuộc hẹn ăn tối chồng chất, ngày giờ các vũ hội được ấn định. Và đúng độ ấy, bà Archer năm nào cũng nói rằng New York đã thay đổi nhiều lắm. Quan sát thành phố từ vị trí cao quý của người không tham dự, với sự trợ giúp của ông Sillerton Jackson và cô Sophy, bà lần ra từng vết nứt mới trên bề mặt nó và những loài cỏ dại kỳ lạ mọc lên giữa các luống rau ngay ngắn của khu vườn xã hội. Thuở trẻ, Archer từng lấy làm thú vị chờ nghe bản chẩn đoán thường niên ấy của mẹ, nghe bà kể ra từng thay đổi nhỏ mà con mắt lơ đãng của anh bỏ sót. Bởi theo bà Archer, New York hễ đổi thay là đổi thay theo chiều xấu đi; cô Sophy Jackson hết lòng tán đồng. Ông Sillerton Jackson, con người từng trải, giữ ý không phán xét, chỉ lắng nghe lời than vãn của hai quý bà với vẻ trung lập thích thú. Nhưng ngay cả ông cũng không phủ nhận rằng New York đang thay đổi; và Newland Archer, trong mùa đông thứ hai của cuộc hôn nhân, đành phải thừa nhận: nếu New York chưa thật sự đổi khác, thì chắc chắn nó đang đổi khác.
Những đề tài ấy, như thường lệ, lại được đem ra bàn trong bữa tiệc lễ Tạ Ơn của bà Archer. Vào cái ngày người ta buộc phải tạ ơn về những phước lành của năm, bà có thói quen rầu rĩ điểm lại thế giới của mình và tự hỏi rốt cuộc có gì đáng để tạ ơn. Với giới thượng lưu thì chẳng có gì: nếu còn có thể nói nó tồn tại, thì nó gần với đối tượng của một lời nguyền trong Kinh Thánh hơn. Quả thật, ai nấy đều hiểu ý bác sĩ Ashmore — vị mục sư mới của nhà thờ Thánh Matthew — khi ông chọn cho bài giảng lễ Tạ Ơn một đoạn trong sách Jeremiah, chương hai, câu hai mươi lăm. Bác sĩ Ashmore mới nhậm chức, được tiếng là 'cấp tiến': những bài giảng của ông được khen là tư tưởng táo bạo, ngôn từ mới mẻ. Mỗi khi lên án giới thượng lưu, ông luôn dùng chữ 'trào lưu'; và với bà Archer, cảm giác mình là một phần của trào lưu nào đó vừa đáng sợ vừa mê hoặc. 'Bác sĩ Ashmore nói đúng. Quả có một trào lưu rõ rệt,' bà nói, như thể đó là thứ nhìn thấy và đo đếm được, chẳng khác vết nứt trên tường nhà. 'Nhưng chọn đề tài ấy giảng vào lễ Tạ Ơn thì cũng lạ,' cô Jackson góp ý; và chủ nhà đáp khô khan: 'Chắc ông ấy muốn ta tạ ơn vì những gì còn sót lại.' Archer vẫn thường mỉm cười trước những chẩn đoán tiên tri của mẹ; nhưng năm nay, nghe kể ra từng khoản, chính anh cũng phải công nhận 'trào lưu' ấy rõ mồn một. 'Sự xa hoa trong ăn mặc thật ghê gớm,' cô Jackson mở lời. 'Sillerton đưa tôi đi đêm khai diễn opera, mà trong các váy áo năm ngoái tôi chỉ nhận ra mỗi chiếc váy của Jane Merry. Ngay chiếc ấy cũng bị thay tấm thân trước rồi. Tôi nhớ chiếc váy đó đặt ở hiệu Worth mới hai năm trước, vì
bà thợ may vẫn sửa váy cho tôi cũng chính là người luôn đến sửa váy cho chị ấy trước khi mặc.' 'À, Jane Merry là người phe mình,' bà Archer thở dài nói. Các quý bà thế hệ bà chẳng hề ganh tị với lớp trẻ bây giờ — những người vừa đem váy Paris qua cửa hải quan đã vội khoe khắp nơi, thay vì khóa kỹ trong tủ cho 'chín' như xưa. 'Vâng, chị ấy thuộc số ít còn lại. Thời con gái tôi, chạy theo mốt mới nhất bị coi là thô thiển,' cô Jackson nói thêm. 'Amy Sillerton vẫn kể rằng ở Boston, lệ là váy Paris phải cất hai năm mới đem ra mặc. Cụ bà Baxter Pennilow, người làm gì cũng đường hoàng, mỗi năm nhập mười hai chiếc váy: hai nhung, hai satin, hai lụa, sáu chiếc còn lại bằng vải poplin và cashmere hảo hạng. Đó là đơn đặt cố định; hai năm cuối đời cụ ốm liệt không mặc được, người ta tìm thấy bốn mươi tám chiếc váy Worth còn nguyên. Khi các cô con gái mãn tang, họ mặc đợt váy đầu tiên đi nghe hòa nhạc giao hưởng mà trông vẫn chẳng hề vượt trước thời trang.' 'À, thì Boston vốn bảo thủ hơn New York. Nhưng tôi vẫn cho rằng một quý bà nên cất váy Pháp chừng một mùa cho chắc,' bà Archer thừa nhận. 'Chính Beaufort đã mở ra lối mới này khi bắt vợ mặc đồ ngay lúc vừa nhận về; đôi khi phải nhờ trọn vẹn vẻ thanh lịch của Regina thì trông chị ấy mới không giống... không giống...' Cô Jackson đưa mắt quanh bàn, chạm phải cặp mắt lồi hau háu của Janey, đành ấp úng lấp lửng cho qua. '...giống các đối thủ của bà ấy,' ông Sillerton Jackson đế vào, ra vẻ mình vừa buông một câu dí dỏm.
'Ôi...' các quý bà khẽ rì rầm. Bà Archer nói thêm, phần để kéo con gái khỏi đề tài cấm kỵ: 'Tội nghiệp Regina! Lễ Tạ Ơn năm nay của chị ấy chắc chẳng vui vẻ gì. Ông nghe tin đồn về những vụ đầu cơ của Beaufort chưa, Sillerton?' Ông Jackson gật đầu hờ hững. Tin đồn ấy ai cũng biết; ông không thèm xác nhận một câu chuyện đã lan khắp nơi. Một bầu im lặng u ám trùm xuống. Thật ra chẳng ai ưa Beaufort, và nghĩ điều tệ nhất về đời tư ông ta cũng không hẳn là khó chịu; nhưng ý nghĩ ông ta đem nỗi ô nhục tài chính về cho gia đình nhà vợ thì quá chấn động, đến kẻ thù của ông ta cũng không nuốt nổi. New York của Archer dung thứ thói đạo đức giả trong quan hệ riêng tư, nhưng trong làm ăn thì đòi hỏi sự trung thực trong suốt, không tì vết. Đã lâu lắm không có nhà băng tên tuổi nào phá sản trong nhục nhã; nhưng ai cũng nhớ lần gần nhất chuyện đó xảy ra, những người đứng đầu hãng đã bị xã hội ruồng bỏ ra sao. Dù Beaufort quyền thế đến đâu, Regina được yêu mến đến đâu, nếu tin đồn về những vụ đầu cơ phi pháp là thật, thì cả tình liên đới của dòng họ Dallas cũng không cứu nổi Regina tội nghiệp. Câu chuyện chuyển sang những đề tài bớt hiểm nghèo hơn; nhưng đụng đến đâu, mọi thứ như cũng xác nhận cảm giác của bà Archer về dòng chảy
đổi thay đang cuộn xiết. 'Dĩ nhiên, Newland, mẹ biết con để May yêu quý của chúng ta đi dự các tối Chủ nhật của bà Struthers...' bà Archer mở lời. May hoạt bát chen vào: 'Bây giờ ai chẳng đến nhà bà Struthers. Bà ấy còn được mời dự buổi tiếp tân cuối cùng của bà ngoại nữa mà.' Đó, Archer thầm nghĩ, chính là cách New York xử lý những bước chuyển của nó: giả vờ không thấy cho đến khi mọi việc đã rồi, sau đó lại thành thật tưởng rằng chuyện ấy xảy ra từ đời trước. Trong thành lũy bao giờ cũng có kẻ phản bội; và khi kẻ ấy (thường là 'bà ấy') đã trao chìa khóa, thì tuyên bố thành trì bất khả xâm phạm còn nghĩa lý gì? Một khi người ta đã nếm sự hiếu khách dễ chịu của những tối Chủ nhật nhà bà Struthers, chẳng ai muốn nhớ rằng champagne của bà vốn là xi đánh giày hóa kiếp. 'Mẹ biết, con ạ, mẹ biết,' bà Archer thở dài. 'Chừng nào người ta còn đổ ra ngoài tìm vui, những chuyện thế này hẳn khó tránh. Nhưng điều mẹ không sao tha thứ nổi, là cô em họ Olenska của con lại là người đầu tiên
đứng ra công nhận bà Struthers.' Một sắc đỏ đột ngột dâng lên gương mặt bà Archer trẻ. Cảnh ấy làm người chồng sửng sốt chẳng kém các vị khách quanh bàn. 'Ôi, Ellen...' May khẽ thốt, đúng cái giọng nửa trách móc nửa bao biện mà cha mẹ nàng sẽ dùng khi nói: 'Ôi, nhà Blenker...'. Đó là nốt nhạc cả gia đình vẫn tấu lên mỗi khi tên nữ bá tước Olenska được nhắc tới, kể từ khi nàng làm họ ngỡ ngàng và khó xử vì từ chối đề nghị của chồng; nhưng thốt ra từ miệng May, nó gợi bao điều phải nghĩ, và Archer nhìn vợ với cảm giác xa lạ kỳ quặc vẫn thỉnh thoảng xâm chiếm anh đúng vào lúc nàng hòa hợp với môi trường của mình nhất. Mẹ anh, kém nhạy với bầu không khí hơn thường lệ, vẫn bướng bỉnh nói tiếp: 'Mẹ luôn cho rằng những người như nữ bá tước Olenska, từng sống trong xã hội quý tộc, lẽ ra phải giúp chúng ta giữ gìn những phân biệt trong giao tế, chứ không phải phớt lờ chúng.' Mặt May vẫn đỏ ửng; sắc đỏ ấy như chất chứa một ý nghĩa vượt xa việc thừa nhận sự thất tín của bà Olenska
với giới giao tế. 'Với người ngoại quốc, hẳn chúng ta ai trông cũng như ai,' cô Jackson chua chát nói. 'Em nghĩ Ellen chẳng màng đến đời sống giao tế. Nhưng chị ấy màng đến cái gì thì chẳng ai biết đích xác,' May nói, như đang dò tìm một lối diễn đạt trung dung, không hẳn chê mà cũng chẳng phải khen. 'Chao ôi...' bà Archer lại thở dài. Ai cũng biết nữ bá tước Olenska không còn được gia đình sủng ái. Ngay bà Manson Mingott, người bênh vực nàng nhiệt thành nhất, cũng không thể biện hộ cho việc nàng từ chối trở về với chồng. Nhà Mingott không công khai bày tỏ nỗi bất bình: ý thức liên đới của họ quá mạnh. Họ chỉ đơn giản, như lời bà Welland, 'để mặc Ellen tội nghiệp tự tìm lấy chỗ đứng của mình'. Vậy mà cái chỗ đứng ấy, nhục nhã và khó hiểu thay, lại chìm sâu trong tầng lớp xã hội mờ mịt do nhà Blenker dẫn dắt, nơi 'những người viết lách' cử hành các nghi thức luộm thuộm của họ. Khó tin, nhưng là sự thật: với bao cơ hội và đặc ân trong tay, Ellen rốt cuộc chỉ thành một kẻ 'bohemian'. Sự thật ấy càng củng cố lập luận rằng việc nàng không trở về với bá tước Olenski là sai lầm chí mạng. Suy cho cùng, chỗ của người đàn bà trẻ là dưới mái nhà chồng, nhất là khi nàng đã rời bỏ nó trong những hoàn cảnh mà... chà... nếu ai muốn soi kỹ vào... 'Bà Olenska được các quý ông mến chuộng lắm,' cô Sophy nói, ra chiều muốn xoa dịu mà kỳ thực đang cắm một mũi kim. 'Ấy, đó chính là mối nguy mà người đàn bà trẻ như bà Olenska luôn phải đối mặt,' bà Archer buồn bã tán đồng. Đi đến kết luận ấy, các quý bà thu vạt váy, dời sang phòng khách dưới ánh đèn;
còn Archer và ông Sillerton Jackson lui về thư phòng kiểu gothic. Yên vị bên lò sưởi, tự an ủi về bữa tối đạm bạc bằng điếu xì gà hoàn hảo, ông Jackson lên giọng trịnh trọng và cởi mở: 'Nếu Beaufort vỡ nợ,' ông tuyên bố, 'sẽ có những chuyện động trời bị phanh phui.' Archer ngẩng phắt lên. Mỗi lần nghe cái tên ấy, anh lại thấy hiện rõ thân hình bệ vệ của Beaufort, xúng xính áo lông và giày ủng sang trọng, rảo bước trong tuyết ở Skuytercliff. 'Chắc chắn sẽ có,' ông Jackson tiếp, 'một cuộc thanh lý thuộc loại khó ngửi nhất. Tiền của ông ta đâu có tiêu hết cho Regina.' 'Thì... chuyện đó ai chẳng đoán được? Cháu cá là ông ta vẫn thoát được thôi,' chàng trai nói, như muốn lái sang chuyện khác. 'Có thể, có thể lắm. Nghe nói hôm nay ông ta hẹn gặp mấy nhân vật có thế lực. Dĩ nhiên,' ông Jackson miễn cưỡng nhượng bộ, 'cũng mong họ kéo được ông ta lên, ít nhất lần này. Tôi không muốn nghĩ cảnh Regina tội nghiệp sống nốt quãng đời còn lại ở một khu nghỉ tồi tàn nào đó bên nước ngoài dành cho những kẻ vỡ nợ.' Archer không nói gì. Chuyện tiền bạc bất chính phải trả giá cay đắng đối với anh là lẽ đương nhiên, nên tâm trí anh không nấn ná bên số phận bà Regina Beaufort mà quay về một câu hỏi gần gũi hơn. Vì sao mặt May đỏ bừng khi cái tên nữ bá tước Olenska
được nhắc đến? Đã bốn tháng trôi qua kể từ ngày giữa hè anh và bà Olenska bên nhau; từ đó anh chưa gặp lại nàng. Anh biết nàng đã về Washington, về ngôi nhà nhỏ mà nàng và Medora Manson thuê làm chỗ ở. Anh viết cho nàng một lần — vài dòng ngắn, hỏi bao giờ họ được gặp lại — và nàng hồi âm còn ngắn hơn: 'Chưa đâu.' Từ đó, giữa hai người không còn liên lạc nào nữa. Và anh đã dựng lên trong lòng mình một điện thờ cho nàng; nơi ấy nàng ngự trị giữa những ý nghĩ và khao khát thầm kín của anh. Dần dần, điện thờ đó thành sân khấu của đời sống đích thực của anh, nơi duy nhất anh còn hoạt động một cách có lý trí; anh mang vào đó những cuốn sách đã đọc, những tư tưởng và tình cảm nuôi dưỡng mình, những phán đoán và mộng tưởng của mình. Bên ngoài nó, trên sân khấu của đời sống thực, anh sống với cảm giác hư ảo và thiếu hụt mỗi lúc một lớn, va vấp vào những định kiến quen thuộc và quan điểm cổ truyền như kẻ đãng trí va mãi vào đồ đạc trong chính căn phòng mình. Vắng mặt. Trạng thái của anh là thế đấy. Anh xa cách triệt để đến vậy với tất cả những gì đậm đặc và có thật nhất đối với người quanh mình, đến nỗi đôi khi anh sửng sốt nhận ra họ vẫn tưởng anh đang ở đó. Anh cảm thấy ông Jackson đang đằng hắng lấy giọng để tiếp tục
những tiết lộ mới. 'Dĩ nhiên tôi không rõ gia đình bên vợ anh biết đến đâu về những điều người ta bàn tán quanh việc, chà, việc bà Olenska từ chối đề nghị cuối cùng của chồng.' Archer giữ im lặng; ông Jackson nói tiếp, giọng nghiêng nghiêng bóng gió: 'Đáng tiếc. Thật sự đáng tiếc. Bà ấy từ chối đề nghị đó là điều rất đáng tiếc.' 'Đáng tiếc? Vì lẽ gì mới được chứ?' Ông Jackson nhìn xuống dọc ống chân mình, đến chỗ chiếc tất không nếp gấp nối liền đôi giày bóng loáng. 'Chà, nói cho gọn nhất thì... từ nay bà ấy sống bằng gì đây?'
'Từ nay?' 'Nếu Beaufort...' Archer bật dậy, nắm tay giáng xuống mép bàn gỗ óc chó đen. Mực trong những lọ đồng sóng sánh. 'Thưa ông, ông muốn nói gì vậy?' Ông Jackson hơi xoay người trên ghế, đưa ánh mắt điềm tĩnh nhìn gương mặt bừng bừng của chàng trai. 'Chà... tôi nghe từ nguồn khá đáng tin. Thật ra là từ chính cụ bà Catherine. Gia đình đã cắt giảm mạnh khoản chu cấp của nữ bá tước khi bà ấy dứt khoát từ chối trở về với chồng. Thêm nữa, với sự cự tuyệt này, bà ấy cũng từ bỏ luôn số tiền được định cho mình khi kết hôn — nếu quay về thì Olenski sẵn lòng sang tên khoản ấy. Mà này, cậu hỏi tôi muốn nói gì, chứ chính cậu hỏi thế là có ý gì?' ông Jackson vui vẻ đối đáp. Archer bước tới lò sưởi, cúi gạt tàn thuốc. 'Việc riêng của bà Olenska cháu hoàn toàn không biết; nhưng điều ông đang ám chỉ thì cháu không thể đồng ý.' 'Ồ, đâu phải tôi. Là Lefferts nói đấy chứ,' ông Jackson chen vào. 'Lefferts? Kẻ từng tán tỉnh bà ấy và bị cự tuyệt?' Archer khinh bỉ kêu lên. 'À, thế cơ à?' người kia bật lại sắc lẻm, như thể nãy giờ chỉ rình đúng câu trả lời ấy. Ông vẫn ngồi nghiêng bên lò sưởi, ánh mắt già nua cứng cỏi bám chặt gương mặt Archer như chiếc lò xo thép. 'Chà, biết nói sao. Giá bà ấy quay về trước khi Beaufort sụp đổ thì hơn,' ông lặp lại. 'Bây giờ mà đi, rồi ông ta phá sản thật, thì chỉ càng khiến người ta tin chắc vào điều họ nghĩ. Mà đâu phải mình Lefferts nghĩ thế.'
'Ồ, bây giờ thì bà ấy tuyệt đối không về nữa. Càng không bao giờ hơn lúc nào hết!' Vừa buột miệng, Archer hiểu ngay: đó chính là câu ông Jackson chờ đợi. Vị lão gia nhìn anh chăm chú. 'Đó là ý kiến của anh hả? Ừ, hẳn anh rõ hơn tôi. Nhưng ai cũng sẽ nói cho anh biết: mấy đồng còm cõi còn lại của Medora Manson đều nằm trong tay Beaufort. Ông ta mà sụp, hai người đàn bà ấy xoay xở sao nổi, tôi chịu không hình dung được. Dĩ nhiên bà Olenska vẫn có thể làm mềm lòng cụ Catherine — người phản đối gay gắt nhất việc bà ấy ở lại; và cụ Catherine muốn chu cấp bao nhiêu chẳng được. Nhưng ai cũng biết cụ ghét cay ghét đắng chuyện xuất tiền; còn những người khác trong gia đình thì chẳng có lý do đặc biệt nào để giữ bà Olenska ở đây.' Trong Archer sôi lên cơn giận không kìm nổi: anh đang ở đúng trạng thái con người biết mình sắp làm điều dại dột mà vẫn cứ làm. Anh nhận ra ông Jackson đã lập tức đánh hơi được rằng anh không hề hay biết chuyện bất hòa giữa bà Olenska với bà ngoại và họ hàng; hẳn lão gia cũng đã tự suy ra vì sao Archer bị gạt khỏi các cuộc bàn bạc gia đình. Nhận ra điều đó, anh biết mình phải thận trọng; nhưng những lời bóng gió về Beaufort khiến anh liều lĩnh. Dẫu không nghĩ đến hiểm nguy của chính mình, ít nhất anh vẫn nhớ ông Jackson là khách dưới mái nhà mẹ anh. New York cổ kính coi phép tắc đãi khách là trên hết; không bao giờ được để cuộc trò chuyện với khách biến thành cãi vã. 'Ta lên với mẹ cháu chứ?' Archer nói cộc lốc, khi mẩu tàn thuốc cuối cùng của ông Jackson rơi vào chiếc gạt tàn đồng bên khuỷu tay.
Trên xe về nhà, May im lặng đến lạ. Ngay trong bóng tối, anh vẫn cảm thấy nàng đang chìm trong sắc đỏ hăm dọa ấy. Ý nghĩa của nó, Archer không đoán nổi; nhưng chỉ riêng việc cái tên bà Olenska khơi nó dậy cũng đủ là lời cảnh báo. Hai người cùng lên cầu thang, và anh vào thư phòng.
Bình thường May sẽ theo anh vào. Nhưng anh nghe tiếng nàng đi tiếp dọc hành lang, về phòng riêng. 'May!' anh sốt ruột gọi. Nàng khựng lại như giật mình vì giọng anh, rồi quay lại. 'Cái đèn này lại ám khói rồi. Người làm phải lo cho nó đâu ra đấy chứ,' anh cáu kỉnh càu nhàu. 'Em xin lỗi. Sẽ không có lần sau nữa đâu,' nàng đáp bằng cái giọng cả quyết, tươi sáng học từ mẹ; và cảm giác nàng đã bắt đầu dỗ dành mình như dỗ một ông Welland trẻ khiến Archer càng thêm bực. May cúi xuống vặn nhỏ bấc đèn, ánh sáng hắt lên đôi vai trắng và những đường nét thanh thoát trên gương mặt nàng. Archer thầm nghĩ: 'Nàng trẻ quá. Cuộc sống bất tận này còn phải kéo dài bao nhiêu năm nữa đây?' Anh rợn người cảm thấy tuổi trẻ của chính mình, dòng máu nóng đang rần rật trong huyết quản. Đột nhiên anh nói: 'Này, có lẽ anh phải đi Washington vài ngày. Sắp thôi, khoảng tuần sau.' Tay vẫn đặt trên núm đèn, May chầm chậm quay lại. Hơi nóng ngọn lửa hắt chút hồng lên má nàng, nhưng khi ngẩng nhìn anh, sắc hồng ấy nhạt đi. 'Vì công việc à?' nàng hỏi, bằng giọng máy móc như thể chỉ tiếp lời cho trọn câu của anh — cái giọng ngụ ý ngoài công việc ra chẳng thể có lý do nào khác. 'Ừ, dĩ nhiên. Có một vụ kiện bằng sáng chế sắp đưa lên Tối cao Pháp viện.' Anh nêu tên nhà phát minh, rồi thao thao trình bày chi tiết bằng tài ăn nói lưu loát kiểu Lawrence Lefferts. May chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng gật đầu: 'Vâng, em hiểu.' 'Đi đổi gió cũng tốt cho anh,' nàng nói giản dị khi anh dứt lời.
'Và anh nhớ ghé thăm Ellen nhé.' Nàng nhìn thẳng vào mắt anh với nụ cười không gợn mây, giọng tự nhiên như đang dặn chồng đừng quên một bổn phận gia đình phiền toái. Đó là lời duy nhất hai người trao đổi về đề tài ấy. Nhưng trong thứ mật ngữ chung của họ, nó vang lên thế này: 'Người ta nói gì về Ellen, em biết cả. Em hết lòng ủng hộ gia đình mình trong việc đưa chị ấy về với chồng. Em cũng biết — dù anh chưa từng nói, có lẽ vì không thể nói — rằng anh đã khuyên chị ấy làm ngược lại; và vì anh mà cả nhà, đến tận bà ngoại, đều bị thách thức. Chính vì thế những lời bóng gió của ông Sillerton Jackson tối nay mới làm anh khó chịu. Người ta đã nhắc khéo anh nhiều lần rồi; anh không chịu nghe từ ai khác, nên em đích thân nói, theo cách duy nhất mà những người có giáo dục như chúng ta có thể truyền cho nhau điều khó chịu: cho anh hiểu rằng em biết anh định gặp Ellen ở Washington — có khi anh đi Washington chính vì mục đích ấy. Đã chắc chắn gặp chị ấy, thì anh hãy gặp với sự cho phép rõ ràng của em. Và nhân dịp đó, anh nên nói rõ cho chị ấy biết con đường anh đã khuyên chị ấy chọn sẽ dẫn tới kết cục nào.' Khi thông điệp câm lặng ấy kết thúc, tay May vẫn đặt trên núm đèn. Nàng vặn bấc xuống hết cỡ, nhấc chao thủy tinh lên và thổi vào ngọn lửa ủ ê. 'Thổi tắt thế này đỡ mùi hơn,' nàng nói với vẻ đảm đang của người nội trợ giỏi. Đến ngưỡng cửa, nàng quay lại, dừng bước, chờ nụ hôn của anh.