Bản tiếng Việt
Chương 34
Newland Archer ngồi bên bàn viết trong thư phòng của mình, ở phố Ba Mươi Chín Đông. Ông vừa từ một buổi chiêu đãi chính thức lớn tại Bảo tàng Metropolitan trở về, nhân dịp khai trương các phòng trưng bày mới. Trong những gian phòng mênh mông ấy chen chúc hiện vật của vô số thời đại, và cảnh đám đông sang trọng đi lại giữa những kho báu được phân loại khoa học đã ấn xuống trong ông một chiếc lò xo ký ức cũ đã hoen gỉ. 'À, chỗ này ngày trước là một trong các phòng Cesnola,' ông nghe ai đó nói; và lập tức mọi thứ quanh ông tan biến. Ông lại ngồi một mình trên chiếc đi văng da cứng, tựa vào lò sưởi, trong khi một dáng người mảnh khoác chiếc áo choàng da hải cẩu dài đang xa dần theo những hành lang của một bảo tàng cũ kỹ, lỗi thời.
Hình ảnh ấy kéo theo bao nhiêu ký ức khác, và ông nhìn bằng con mắt mới căn thư phòng nơi hơn ba mươi năm qua đã diễn ra những suy tưởng một mình của ông và những cuộc chuyện trò của gia đình. Ông nhận ra rằng hầu hết những sự kiện quan trọng của đời mình đều xảy ra trong căn phòng này. Chính ở đây, gần hai mươi sáu năm trước, vợ ông đã nói với ông, bằng lối vòng vo rụt rè mà lớp con gái đời nay hẳn phải mỉm cười, rằng nàng đang mang thai. Và cũng ở đây, mùa đông năm ấy, họ làm lễ rửa tội cho đứa con đầu lòng Dallas, đứa bé không thể mang đến nhà thờ vì sợ nhiễm lạnh; người làm lễ là bạn cũ của họ, giám mục New York, vị giáo phẩm lộng lẫy và không ai thay thế được, từ lâu là niềm tự hào và vẻ đẹp của giáo phận. Chính ở đây Dallas đã chập chững những bước đầu tiên và kêu 'Ba ơi!', trong khi May và người vú cười sau cánh cửa. Và cũng ở đây, cô con gái thứ hai của họ là Mary, giống mẹ như đúc,
đã báo tin đính hôn với người con trai buồn tẻ nhất và đáng tin cậy nhất trong số nhiều con trai của Reggie Chivers. Và Archer đã hôn con qua tấm khăn voan cô dâu trước khi cùng con xuống chiếc xe đưa cô tới nhà thờ Grace. Trong một thế giới mà mọi thứ đều đổi thay, 'đám cưới ở nhà thờ Grace' vẫn là truyền thống bất biến. Và cũng chính trong thư phòng ấy, ông và May luôn bàn về tương lai các con: việc học của Dallas và của cậu em Bill; sự thờ ơ hoàn toàn của Mary với 'văn hóa' và niềm say mê thể thao cùng các việc từ thiện; và cái hứng thú mơ hồ với nghệ thuật đã đưa chàng Dallas tò mò, chẳng lúc nào yên, vào văn phòng của một kiến trúc sư trẻ đang lên ở New York. Lớp trẻ bây giờ rời bỏ luật và kinh doanh để thử đủ thứ mới mẻ. Khi không lao vào chính trị của bang hay công cuộc cải cách thành phố, họ quay sang khảo cổ học ở Trung Mỹ, sang kiến trúc hay kỹ thuật cảnh quan. Họ dành mối quan tâm say mê và uyên bác cho kiến trúc trước Cách mạng của chính nước mình, nghiên cứu và vận dụng phong cách Georgia, và phản đối việc dùng bừa chữ 'thuộc địa'. Ngày nay chẳng ai còn nhà 'thuộc địa' nữa, ngoài mấy ông chủ tiệm tạp hóa giàu có ở ngoại ô.
Nhưng trên hết — và đôi khi Archer cho rằng điều này quan trọng hơn tất cả — chính trong thư phòng này, ngài thống đốc New York, từ Albany xuống dùng bữa tối và ngủ lại một đêm, đã đấm tay xuống bàn và, vừa lau kính vừa nói với ông: 'Dẹp hết cái đám chính khách ấy đi! Archer, đất nước cần những người như ông. Nếu đã đến lúc dọn cái chuồng ngựa này, thì những người như ông phải xắn tay áo lên mà giúp một tay.' 'Những người như ông.' Câu ấy đã làm ông xúc động biết bao! Ông đã đứng dậy đáp lại tiếng gọi ấy với biết bao nhiệt thành! Đó là tiếng vọng của điều Ned Winsett từng nói năm xưa: lời mời xắn tay áo và bước xuống bùn. Nhưng lần này người gọi lại chính là người đang tự mình thực hiện lời mời ấy, và mệnh lệnh đi theo ông ta là không thể chối từ.
Nhìn lại, Archer không chắc những người như mình có thật sự cần cho đất nước hay không, ít ra là trong vai trò tích cực mà Theodore Roosevelt chỉ ra. Thật ra, có lý do để nghĩ rằng không. Sau một năm ở nghị viện bang, ông không tái đắc cử; ông lui về công việc thành phố lặng lẽ nhưng hữu ích, rồi từ đó chuyển sang thỉnh thoảng viết bài cho một tuần báo cải cách muốn lay tỉnh sự thờ ơ của đất nước. Chẳng có nhiều điều để nhìn lại; nhưng khi nghĩ tới thế hệ mình và những người trẻ quanh mình, những kẻ chỉ nhìn tương lai qua khe hẹp của tiền bạc, thể thao và giao tế, ông thấy rằng mình cũng đã góp một chút gì đó vào thế giới mới. Phần đóng góp nhỏ bé của ông cũng có giá trị như từng viên gạch trong một bức tường xây khéo. Ông chưa làm được việc lớn nào trong đời công, và theo bản tính thì ông sẽ mãi là một người trầm tư và một kẻ tài tử. Nhưng ông đã chiêm ngưỡng những giá trị cao, đã hưởng những điều lớn lao, và đã có một người bạn lớn đem lại cho ông sức mạnh cùng niềm kiêu hãnh.
Nói gọn, ông đã trở thành cái mà người ta dần gọi là 'một công dân mẫu mực'. Ở New York, nhiều năm liền, mọi phong trào mới, mọi việc từ thiện, mọi cuộc cải cách thành phố hay hoạt động nghệ thuật đều cần ý kiến của ông và muốn có tên ông. Khi ai đó muốn lập trường học đầu tiên cho trẻ khuyết tật, sắp xếp lại bảo tàng mỹ thuật, sáng lập câu lạc bộ Grolier, mở một thư viện mới hay lập một hội nhạc thính phòng, người ta bảo: 'Hỏi Archer đi.' Ngày tháng của ông đầy ắp, và đầy một cách đường hoàng. Ông thấy đó là một cuộc đời đủ cho một người đàn ông. Nhưng ông biết mình đã bỏ lỡ một điều: chính đóa hoa của cuộc đời. Song giờ đây điều ấy dường như xa vời và khó xảy ra đến mức than tiếc nó cũng như tuyệt vọng vì không trúng giải độc đắc trong một cuộc xổ số. Cuộc xổ số của ông có một trăm triệu vé và chỉ một giải; xác suất rõ ràng chẳng đứng về phía ông. Mỗi khi nghĩ tới Ellen Olenska, ông nghĩ một cách trừu tượng và bình thản, như người ta nghĩ về một người tình tưởng tượng trong sách hay trong tranh. Nàng đã trở thành hình ảnh tổng hợp của tất cả những gì ông đã bỏ lỡ. Và hình ảnh ấy, dù mờ nhạt và mong manh, đã giữ ông khỏi nghĩ đến những người đàn bà khác.
Ông đã là cái mà người ta gọi là một người chồng chung thủy; và khi May đột ngột qua đời vì viêm phổi lây nhiễm, mắc phải trong lúc chăm đứa con út, ông đã thành thật khóc thương bà. Trong cuộc hôn nhân dài lâu, cả hai đều học được rằng dù hôn nhân có là một bổn phận đơn điệu, thì điều quan trọng vẫn là giữ được phẩm giá của bổn phận ấy. Mất phẩm giá đó, hôn nhân chỉ còn là cuộc giành giật của những thèm muốn xấu xí. Ông nhìn quanh, kính trọng con người cũ của mình và khóc thương nó. Nói cho cùng, lối cũ cũng có cái hay. Mắt ông đi một vòng quanh phòng, lướt qua những bức khắc mezzotint kiểu Anh mà Dallas mới treo, qua chiếc tủ Chippendale, qua bộ đồ sứ xanh trắng chọn kỹ và những ngọn đèn điện tỏa sáng dịu. Rồi trở lại chiếc bàn viết Eastlake cũ mà ông chẳng bao giờ bỏ được, và bức chân dung đầu tiên của May vẫn đặt cạnh lọ mực. Bà ở đó: cao lớn, ngực đầy đặn, dáng người mềm mại, trong chiếc áo muslin hồ cứng và chiếc mũ rơm bay bay, đúng như lần đầu ông trông thấy dưới những cây cam trong khu vườn Mission.
Và đúng như ông đã thấy hôm ấy, bà vẫn giữ nguyên như vậy: không phải lúc nào cũng y hệt, nhưng chưa bao giờ xa mấy; rộng lượng, trung thành, không biết mỏi mệt. Nhưng bà thiếu trí tưởng tượng và khả năng lớn lên, nên cái thế giới thời trẻ của bà vỡ tan rồi dựng lại mà bà chẳng hề nhận ra sự đổi thay. Cái mù lòa vững chãi và trong sáng của bà khiến chân trời gần mà bà nhìn ngắm dường như không hề đổi. Vì bà không nhận ra những đổi thay, các con giấu bà những ý nghĩ của chúng, và Archer cũng vậy. Thế là ngay từ đầu đã nảy ra một sự giả vờ chung, rằng mọi thứ vẫn nguyên như cũ: một thứ đạo đức giả gia đình ngây thơ mà cha và các con cùng dệt nên mà không hay. Và bà rời cõi đời trong niềm tin rằng thế gian là chốn tốt lành, đầy những gia đình yêu thương và thuận hòa. Bà tin chắc Newland sẽ tiếp tục truyền cho Dallas những nguyên tắc và định kiến đã tạo nên đời họ, và rằng Dallas, khi Newland theo bà đi, sẽ trao lại di sản thiêng liêng ấy cho cậu Bill bé bỏng. Về Mary, bà cũng chắc chắn như về chính mình. Thế nên, sau khi giành lại cậu Bill từ tay bệnh tật và đánh đổi cả mạng sống trong nỗ lực ấy, bà mãn nguyện đi về phần mộ nhà Archer ở nhà thờ Thánh Mark, nơi bà Archer đã yên nghỉ, an toàn trước cái 'dòng chảy' đáng sợ mà con dâu bà chưa bao giờ nhận ra.
Đối diện chân dung May là chân dung con gái bà, Mary Chivers. Mary Chivers cao và tóc vàng như mẹ, nhưng eo to, ngực phẳng và vai hơi khom, đúng theo sự đổi thay của thời đại. Những thành tích thể thao lớn của Mary Chivers hẳn không thể có được với vòng eo hai mươi inch mà dải lụa xanh da trời của May Archer từng quấn quanh dễ dàng. Và sự khác biệt ấy mang ý nghĩa tượng trưng. Đời người mẹ đã bị bó chặt như chính vòng eo bà. Mary cũng quy củ như thế và chẳng thông minh hơn, nhưng sống một cuộc đời rộng hơn và có những quan điểm khoan dung hơn. Trật tự mới cũng có cái hay của nó. Chuông điện thoại reo. Archer rời mắt khỏi những bức chân dung và nhấc ống nghe bên cạnh. Đã xa biết bao cái thời cậu bé đưa tin với hàng khuy đồng là phương tiện liên lạc nhanh duy nhất của New York! 'Có cuộc gọi từ Chicago.' À, hẳn là Dallas. Hãng đã cử cậu tới Chicago để bàn bản thiết kế tòa dinh thự bên hồ cho một triệu phú trẻ có những ý tưởng độc đáo. Hãng bao giờ cũng giao những việc như thế cho Dallas.
'Chào ba. Vâng, con Dallas đây. Ba thấy đi tàu thứ Tư thì sao ạ? Tàu Mauretania. Vâng, thứ Tư tuần sau. Khách hàng của con muốn con xem vài khu vườn Ý rồi mới quyết. Ông ấy bảo con đi và về ngay chuyến tàu sớm nhất. Con phải có mặt ở nhà ngày một tháng Sáu.' Cậu bật cười khoái chí rồi nói tiếp: 'Nên phải gấp lắm. Ba ơi, con nhờ ba giúp: ba đi với con nhé.' Giọng Dallas nghe như thể cậu đang nói ngay trong phòng, gần đến mức tưởng cậu đang ngả người trên chiếc ghế bành cạnh lò sưởi. Bình thường cuộc gọi này chẳng khiến Archer ngạc nhiên: điện thoại đường dài đã thành chuyện thường như đèn điện hay việc vượt Đại Tây Dương trong năm ngày. Nhưng tiếng cười ấy làm ông giật mình. Ông vẫn thấy kỳ diệu rằng, qua bao rừng và sông, núi và đồng bằng, những thành phố nhộn nhịp và những đám đông bận rộn thờ ơ, tiếng cười của Dallas vẫn có thể nói: 'Dĩ nhiên rồi, dù có chuyện gì con cũng phải về trước ngày một: con và Fanny Beaufort cưới ngày mùng năm.'
Giọng nói lại vang lên. 'Ba định nghĩ đã ạ? Không được đâu ba. Ba phải trả lời ngay bây giờ. Con muốn nghe dù chỉ một lý do để ba từ chối, nếu ba có. Không, con hiểu rồi. Vậy là quyết nhé? Sáng sớm mai ba gọi văn phòng hãng Cunard đặt chỗ giúp con. Và nên lấy chuyến về từ Marseille thì hơn. Có lẽ đây là lần cuối hai cha con mình được như thế này, chỉ có hai người. À, tốt quá! Con biết ba sẽ đồng ý mà.' Khi đường dây Chicago ngắt, Archer đứng dậy và bắt đầu đi đi lại lại trong phòng. Đây sẽ là lần cuối hai cha con được ở bên nhau như thế. Thằng bé nói đúng. Sau khi Dallas cưới, sẽ còn nhiều 'lần' khác, người cha tin chắc thế: hai người vốn là bạn đồng hành bẩm sinh, và dù Fanny Beaufort có là người thế nào thì cô cũng không có vẻ gì sẽ cản trở sự thân thiết ấy. Trái lại, theo những gì Archer thấy, cô sẽ bước vào mối thân tình đó một cách hết sức tự nhiên. Nhưng đổi thay vẫn là đổi thay, và khác biệt vẫn là khác biệt. Dù thấy mến người con dâu tương lai, ông vẫn khó cưỡng lại ý muốn nắm lấy cơ hội cuối cùng được ở riêng với con trai.
Chẳng có lý do thật sự nào để không nắm lấy cơ hội ấy, ngoài việc ông đã mất thói quen đi xa. May không thích di chuyển nếu không có lý do chính đáng, chẳng hạn đưa các con ra biển hay lên núi. Bà không thấy cớ gì phải rời ngôi nhà tiện nghi ở phố Ba Mươi Chín hay nhà Welland ở Newport. Khi Dallas học xong, bà cho đó là bổn phận của mình và cả nhà đi sáu tháng: cả gia đình làm chuyến du lịch châu Âu cổ điển qua Anh, Thụy Sĩ và Ý. Thời gian có hạn, và — chẳng ai biết vì sao — phải bỏ nước Pháp ra ngoài. Archer nhớ Dallas đã phẫn nộ thế nào, khi cậu muốn xem nhà thờ Reims và Chartres mà lại được đề nghị đi xem đỉnh Mont Blanc. Nhưng Mary và Bill muốn leo núi, và đã chán ngán vì phải theo Dallas đi hết nhà thờ này đến nhà thờ khác ở Anh. May, người bao giờ cũng muốn công bằng với các con, cố cân đối giữa thiên hướng thể thao và thiên hướng nghệ thuật của chúng. Bà còn đề nghị chồng ở lại Paris hai tuần rồi gặp lại họ ở vùng hồ nước Ý khi bà và các con đã 'xong' Thụy Sĩ; nhưng Archer từ chối. 'Chúng ta sẽ đi cùng nhau,' ông nói; và May tỏ vẻ hài lòng vì đã nêu một tấm gương tốt cho Dallas.
Giờ đây, gần hai năm sau ngày bà mất, chẳng còn lý do gì để tiếp tục nếp cũ. Các con đều mong cha đi xa. Mary Chivers tin chắc rằng ra nước ngoài và 'đi xem bảo tàng' sẽ tốt cho sức khỏe của cha. Cái vẻ bí ẩn của phương thuốc ấy càng khiến cô tin hơn. Nhưng Archer bị níu lại bởi thói quen, ký ức và một nỗi sợ đột ngột trước cái mới. Bây giờ nhìn lại, ông thấy mình đã sa vào một lối mòn sâu đến mức nào. Điều tệ nhất của việc làm tròn bổn phận là nó khiến người ta không còn hợp với bất cứ việc gì khác. Ít nhất thì với những người đàn ông cùng thế hệ ông, mọi sự đã diễn ra như vậy. Ranh giới rõ ràng giữa đúng và sai, giữa trung thực và gian dối, giữa cái đáng trọng và cái ngược lại, hầu như chẳng chừa chỗ nào cho điều bất ngờ. Có những lúc trí tưởng tượng của một con người, vốn dễ bị hoàn cảnh mình sống đè bẹp, bỗng vượt lên trên mặt bằng thường ngày và nhìn thấy những khúc quanh dài, phức tạp của số phận. Archer mắc lại ở đó, dừng lại, và nghĩ ngợi...
Còn lại gì từ thế giới nhỏ bé nơi ông lớn lên, từ những chuẩn mực đã bẻ cong và trói buộc ông? Ông nhớ lời tiên tri giễu cợt mà Lawrence Lefferts tội nghiệp từng nói trong chính căn phòng này: 'Cứ đà này, con cái chúng ta sẽ cưới những đứa con hoang của Beaufort.' Và đúng lúc này, con trai cả của Archer, niềm tự hào của ông, đang làm chính điều đó. Vậy mà không ai ngạc nhiên, cũng chẳng ai chê trách. Ngay cả bà cô Janey của Dallas, chẳng đổi khác chút nào từ thời tuổi trẻ lúc nào cũng như đã già, cũng lấy từ lớp bông hồng ra những viên ngọc lục bảo và mấy hạt ngọc trai của mẹ mình, rồi run run đặt vào tay cô dâu tương lai. Còn Fanny Beaufort, chẳng những không thất vọng vì không có một 'bộ' trang sức của thợ kim hoàn Paris, lại trầm trồ trước vẻ đẹp cổ kính của chúng và hớn hở nói rằng đeo chúng cô sẽ thấy mình như một nhân vật trong tranh của Isabey.
Fanny Beaufort, người xuất hiện ở New York năm mười tám tuổi sau khi cha mẹ qua đời, đã chinh phục thành phố y như bà Olenska ba mươi năm trước; chỉ khác là người ta đón nhận cô với niềm vui, chứ không dè chừng hay e sợ. Cô xinh đẹp, vui vẻ và có tài: còn muốn gì hơn nữa? Chẳng ai nhỏ nhen đến mức moi lại những chuyện đã nửa quên về quá khứ của cha cô và về gốc gác của chính cô. Chỉ những người lớn tuổi mới nhớ chuyện Beaufort phá sản trong giới kinh doanh New York, và chuyện sau khi vợ mất, ông ta lặng lẽ cưới Fanny Ring khét tiếng rồi ra đi cùng người vợ mới và một cô con gái thừa hưởng nhan sắc của mẹ. Sau đó có tin từ Constantinople, rồi từ Nga; và chừng mười hai năm sau, từ Buenos Aires, nơi ông ta đại diện cho một hãng bảo hiểm và tiếp đãi linh đình những du khách đến từ Hoa Kỳ. Ông ta chết ở đó, giữa lúc phát đạt, cùng với vợ. Rồi một ngày kia cô con gái mồ côi xuất hiện ở New York dưới sự bảo trợ của bà Jack Welland, chị dâu của May Archer. Jack Welland được chỉ định làm người giám hộ của cô gái, và điều đó khiến cô gần như là chị em họ với các con của Newland Archer. Vì thế chẳng ai ngạc nhiên khi lễ đính hôn của Dallas được loan báo. Không gì cho thấy rõ hơn thế giới đã đi xa đến đâu. Người ta ngày nay bận quá: giữa những cải cách và 'phong trào', những mốt và những điều mê tín cùng ngàn chuyện vụn vặt, chẳng còn thì giờ bận tâm đến hàng xóm. Quá khứ của ai đó thì có nghĩa lý gì trong cái kính vạn hoa khổng lồ nơi mọi nguyên tử xã hội đều quay trên cùng một mặt phẳng?
Newland Archer nhìn qua cửa sổ khách sạn ra dòng người thanh lịch nhộn nhịp trên phố Paris và thấy tim mình đập rộn lên vì bối rối và khát khao. Đã lâu lắm nó không nhào lộn và phóng chạy như thế dưới lớp áo gi-lê mỗi năm một rộng. Khoảnh khắc sau, ông thấy lồng ngực trống rỗng và hai bên thái dương nóng bừng. Ông tự hỏi con trai mình có cảm giác ấy khi ở bên Fanny Beaufort không, rồi kết luận rằng không. 'Tim nó chắc chắn hoạt động rất tốt, nhưng theo một nhịp khác,' ông nghĩ, nhớ lại vẻ điềm tĩnh lạnh lùng của cậu khi báo tin đính hôn, mặc nhiên coi lời chúc phúc của gia đình là chuyện đương nhiên. 'Khác biệt là ở chỗ đám trẻ này mặc nhiên tin rằng chúng sẽ có được thứ chúng muốn, còn thế hệ chúng ta thì hầu như luôn mặc nhiên tin rằng mình sẽ không có được. Nhưng có một điều ta thắc mắc: liệu tim có thể đập dữ dội đến thế vì một điều mà ta đã chắc chắn từ trước hay không?' Đó là ngày hôm sau khi họ tới Paris. Nắng xuân giữ ông lại bên khung cửa sổ mở ra quảng trường Vendôme rộng rãi, ánh lên màu bạc. Một trong số ít điều kiện — gần như là điều kiện duy nhất — ông đưa ra khi nhận lời đi cùng Dallas là ở Paris sẽ không ở trong những 'cung điện' thời thượng. 'Ồ, dĩ nhiên rồi ba,' Dallas vui vẻ đồng ý. 'Con sẽ đưa ba tới một chỗ cổ kính dễ chịu, đại loại như khách sạn Bristol.' Người cha nghẹn lời khi nghe rằng một nơi từng có vua chúa và hoàng đế ở suốt hơn trăm năm nay lại bị gọi là quán trọ lỗi thời, nơi người ta tới để thưởng thức sự bất tiện và chút màu sắc địa phương còn sót lại.
Những năm đầu, Archer đã nhiều lần bồn chồn hình dung cảnh mình trở lại Paris. Rồi hình dung riêng tư ấy nhạt dần, và ông chỉ muốn nhìn thành phố này như phông nền cho đời bà Olenska. Ngồi một mình trong thư phòng ban đêm, khi cả nhà đã ngủ, ông thường gợi lại ánh sáng rực rỡ của mùa xuân bừng lên dọc những hàng dẻ, những đóa hoa và pho tượng trong các vườn công cộng, mùi tử đinh hương tỏa ra từ những xe hoa, dòng sông chảy uy nghi dưới các cây cầu lớn, và những con phố của một thành phố đầy nghệ thuật, tri thức và thú vui. Giờ đây cảnh tượng ấy trải ra lộng lẫy trước mắt ông, vậy mà ông thấy mình rụt rè, cũ kỹ và lạc lõng: chẳng khác một hạt bụi xám bên cạnh con người lộng lẫy và tàn nhẫn mà ông từng mơ trở thành. Dallas vui vẻ đặt tay lên vai ông. 'Chào ba. Đẹp thật, ba nhỉ?' Hai cha con im lặng nhìn ra ngoài một lát, rồi chàng trai nói tiếp: 'À, con có lời nhắn cho ba đây. Nữ bá tước Olenska đợi hai cha con mình lúc năm giờ rưỡi chiều nay.' Cậu nói nhẹ tênh, hờ hững, như thể đang báo một tin bình thường, kiểu giờ tàu đi Florence tối mai. Archer nhìn con, và ngỡ như thấy trong đôi mắt trẻ trung, linh lợi ấy ánh tinh nghịch của bà cố Mingott.
'À, con chưa kể với ba à?' Dallas nói tiếp. 'Fanny bắt con thề sẽ làm ba việc khi ở Paris: kiếm bản nhạc mới nhất của Debussy, đi xem ở nhà hát Grand Guignol, và tới thăm bà Olenska. Ba biết đấy, bà ấy đã rất tốt với Fanny hồi Beaufort gửi cô ấy từ Buenos Aires sang Asunción. Fanny không có lấy một người bạn ở Paris, thế mà bà Olenska đối xử tử tế với cô ấy và dẫn cô ấy đi chơi trong những kỳ nghỉ. Con nghe nói bà ấy là bạn thân của bà Beaufort thứ nhất. Với lại, bà ấy còn là chị họ của nhà mình nữa. Nên sáng nay trước khi ra ngoài con đã gọi cho bà ấy, nói rằng ba và con ở Paris hai ngày và muốn tới thăm.' Archer vẫn nhìn con chằm chằm. 'Con nói với bà ấy là ba ở đây à?' 'Dĩ nhiên rồi, sao lại không ạ?' Dallas nhướng mày, ra chiều thích thú. Và thấy cha không đáp, cậu luồn tay cha vào tay mình và siết nhẹ đầy thân mật. 'Ba ơi, ba kể con nghe đi: bà ấy là người thế nào?'
Archer thấy mặt mình nóng ran dưới cái nhìn thẳng thắn của con trai. 'Ba nói thật đi. Ba với bà ấy là bạn thân, đúng không? Bà ấy đẹp lắm phải không ba?' 'Đẹp ư? Ba không biết nữa. Bà ấy... khác.' 'À, chính thế! Rốt cuộc bao giờ cũng là chuyện đó, đúng không ba? Khi một người như thế xuất hiện, người ấy 'khác', mà chẳng hiểu vì sao. Đó đúng là điều con cảm thấy về Fanny.' Người cha lùi một bước và buông tay con ra. 'Về Fanny? Nhưng, con ạ, ba mong là như thế! Chỉ có điều ba chưa hiểu con lắm.' 'Ôi ba, ba đừng cổ hủ thế mà. Chẳng phải bà ấy... ngày trước... là Fanny của ba sao?' Dallas thuộc về một thế hệ mới cả về thân xác lẫn tinh thần. Cậu là con trai đầu của Newland và May Archer, vậy mà chẳng ai dạy nổi cậu biết giữ kín điều gì. 'Bày ra bí mật thì được ích gì? Chỉ tổ làm người ta càng tò mò moi móc thôi,' cậu vẫn đáp thế mỗi khi có ai khuyên cậu nên thận trọng. Nhưng Archer nhìn thấy trong mắt con, phía sau lời đùa, là tình cảm của một người con.
'Fanny của ba ư?' 'Thì là người đàn bà mà vì bà ấy ba đã sẵn sàng bỏ hết mọi thứ, chỉ có điều ba đã không bỏ,' cậu con trai đáng kinh ngạc của ông nói tiếp. 'Ba đã không bỏ,' Archer nhắc lại, giọng có phần trang nghiêm. 'Vâng. Thế hệ của ba là như thế, rốt cuộc là vậy. Nhưng mẹ đã kể với con.' 'Mẹ con ư?' 'Vâng, hôm trước ngày mẹ mất. Mẹ gọi riêng con vào, ba nhớ không? Mẹ bảo rằng ở bên ba thì chúng con sẽ luôn được an toàn, vì có một lần, khi mẹ xin ba, ba đã từ bỏ điều ba mong muốn nhất.' Archer lặng lẽ đón nhận những lời lạ lùng ấy. Mắt ông nhìn đăm đăm mà chẳng thấy gì, ra quảng trường ngập nắng dưới khung cửa sổ. Cuối cùng ông nói khẽ: 'Mẹ con chưa bao giờ xin ba điều đó.' 'À vâng, con quên mất. Ba mẹ chẳng bao giờ xin nhau điều gì, phải không ạ? Cũng chẳng nói với nhau điều gì. Chỉ ngồi đó, nhìn nhau, rồi đoán trong lòng người kia đang nghĩ gì. Như hai người vừa điếc vừa câm với nhau vậy! Thế mà con dám cược rằng ba mẹ hiểu nhau còn hơn thế hệ chúng con, những kẻ đến thì giờ tìm hiểu chính mình cũng không có. Mà ba này,' Dallas ngắt lời, 'ba không giận con chứ? Nếu giận thì ba nguôi đi, rồi hai cha con đi ăn trưa ở nhà hàng Henri nhé: sau đó con phải đi Versailles.'
Archer không đi Versailles cùng con trai. Ông muốn dành cả buổi chiều một mình lang thang khắp Paris. Ông phải đối mặt cùng lúc với cả dòng thác những tiếc nuối và ký ức tích tụ mà ông chưa bao giờ nói thành lời được. Một lát sau, ông thôi tiếc về sự bộp chộp của Dallas. Rốt cuộc, biết rằng có người đã hiểu thấu lòng mình và thương xót mình dường như đã tháo tung sợi xích siết chặt ngực ông. Và việc người ấy lại chính là vợ mình khiến ông xúc động không sao nói nổi. Dallas có một trực giác đầy thương yêu, nhưng hẳn cậu sẽ không hiểu được thứ tình cảm đó. Với thằng bé, có lẽ chuyện ấy chỉ là một trường hợp đáng thương của sự từ bỏ vô ích và sức lực bị phí hoài. Nhưng có thật chỉ có vậy thôi không? Archer ngồi rất lâu trên một chiếc ghế dài ở đại lộ Champs-Élysées, chìm trong suy nghĩ, trong khi dòng đời trôi qua bên cạnh... Cách đó vài dãy phố, vài giờ nữa thôi, Ellen Olenska đang đợi. Nàng chưa bao giờ quay về với chồng, và khi ông ta chết nhiều năm trước, nàng cũng không thay đổi lối sống của mình. Giờ đây chẳng còn gì chia cắt hai người nữa. Và chiều nay ông sẽ gặp nàng.
Ông đứng dậy, băng qua quảng trường Concorde và vườn Tuileries để tới Louvre. Có lần nàng bảo ông rằng nàng hay đến Louvre, và ông muốn ở lại một lúc trong nơi mà có thể nàng vừa mới ghé qua. Hơn một tiếng đồng hồ ông đi giữa các gian trưng bày trong thứ ánh sáng chan hòa của buổi chiều, và từng bức tranh một đến với ông trong vẻ lộng lẫy mà ông đã quên, làm đầy tâm hồn ông bằng một dư âm dài của cái đẹp. Nói cho cùng, đời ông đã khô cằn quá đỗi... Bỗng nhiên, đứng trước một bức Titian chói lọi, ông tự nhủ: 'Nhưng mình mới năm mươi bảy tuổi thôi mà.' Rồi ông quay đi. Đã quá muộn cho những giấc mơ giữa mùa hè như thế; nhưng chưa muộn, ông nghĩ, để gặt hái mùa màng lặng lẽ của tình bạn và tình bầu bạn, trong sự tĩnh lặng phúc lành khi có nàng ở gần. Ông trở về khách sạn nơi ông và Dallas hẹn gặp nhau,
và hai cha con lại cùng băng qua quảng trường Concorde và cây cầu dẫn tới Hạ nghị viện. Chẳng hay biết gì về những gì đang diễn ra trong lòng cha, Dallas hào hứng nói không dứt về Versailles. Cậu mới chỉ thoáng thấy nơi ấy một lần, trong kỳ nghỉ mà cậu muốn xem bù một lúc tất cả những gì chuyến đi Thụy Sĩ của gia đình đã tước mất; thế nên niềm say mê và những lời phê bình đầy tự tin cứ chen nhau tuôn ra trên môi cậu. Trong khi nghe con nói, Archer càng thấm thía sự thiếu hụt và bất lực của chính mình. Ông biết Dallas không phải đứa trẻ chậm hiểu, nhưng ở cậu có sự thành thạo và tự tin của người coi số phận như kẻ ngang hàng chứ không phải như ông chủ. 'Chính là thế: lớp người bây giờ thấy mình ngang hàng với mọi thứ trên đời và biết rõ đường mình đi,' Archer thầm nhủ, nhìn Dallas như người phát ngôn của thế hệ mới đã quét sạch mọi chuẩn mực cũ. Cùng với chúng, mọi cột mốc và mọi tín hiệu nguy hiểm cũng biến mất.
Bỗng Dallas dừng bước và nắm lấy cánh tay cha. 'Ôi, ba nhìn kìa!' cậu kêu lên. Hai người vừa ra tới quảng trường lớn trồng đầy cây trước điện Invalides. Mái vòm của Mansart nổi lên đầy bí ẩn trên những tán cây đang đâm chồi và mặt tiền xám dài của tòa nhà. Như thể hút về mình toàn bộ ánh sáng buổi chiều, nó treo lơ lửng ở đó như biểu tượng hữu hình cho vinh quang của một dân tộc. Archer biết bà Olenska sống gần một quảng trường nhỏ trên một trong những con phố tỏa ra từ điện Invalides, và ông vẫn hình dung khu ấy là nơi yên tĩnh, gần như khuất nẻo, mà quên mất vẻ tráng lệ ở trung tâm đang soi sáng nó. Giờ đây, qua một dòng liên tưởng kỳ lạ, ánh vàng ấy trở thành thứ ánh sáng lấp đầy thế giới nơi nàng sống. Suốt gần ba mươi năm, cuộc đời nàng — cuộc đời mà ông hiểu biết ít đến lạ lùng — đã trôi qua trong bầu không khí giàu có này, thứ không khí mà ông đã thấy quá đặc và quá kích thích với lồng ngực mình. Ông nghĩ tới những nhà hát nàng từng lui tới, những bức tranh nàng từng ngắm, những ngôi nhà cổ kính lộng lẫy nàng từng ghé, những con người nàng từng trò chuyện, và dòng chảy không ngừng của những ý tưởng, những tò mò, những hình ảnh và liên tưởng mà những con người rất giỏi giao tế tạo ra trong một khuôn khổ phép tắc lâu đời. Rồi bất chợt ông nhớ lời một chàng trai Pháp từng nói với ông: 'À, chuyện trò hay ho ấy — trên đời này chẳng có gì sánh bằng, phải không ông?' Đã gần ba mươi năm Archer không gặp cũng không nghe tin gì về ông Rivière; và điều đó cho thấy ông mù mờ đến mức nào về cuộc đời bà Olenska.
Nửa cuộc đời đã ngăn cách hai người, và nàng đã sống những năm dài ấy giữa những con người ông không quen biết, trong một xã hội ông chỉ mường tượng lờ mờ, trong một môi trường ông sẽ chẳng bao giờ hiểu trọn vẹn. Suốt thời gian đó ông sống mà giữ tuổi trẻ của nàng trong ký ức; nhưng hẳn nàng đã có những người bạn đồng hành khác cụ thể hơn nhiều. Có thể nàng cũng giữ ông lại như một kỷ niệm; nhưng một kỷ niệm như thế chỉ còn lại như thánh tích trong một nguyện đường nhỏ tối, nơi người ta không có thì giờ cầu nguyện mỗi ngày... Hai cha con băng qua quảng trường Invalides và đi trên một con phố chạy dọc theo tòa nhà. Bất chấp bề dày lịch sử rực rỡ của nó, đây là một khu yên tĩnh; và điều đó cho thấy Paris cất giữ bao nhiêu của cải, và những cảnh như thế này được để dành cho một số ít người cùng những kẻ hờ hững. Ngày đang tắt dần vào một hoàng hôn êm dịu, đây đó những ngọn đèn vàng bật sáng, và trên quảng trường nhỏ mà họ vừa bước vào chỉ lác đác người qua lại.
Dallas lại dừng bước và ngước lên. 'Chắc là đây rồi ba,' cậu nói, luồn tay mình vào tay cha. Cử chỉ ấy không làm Archer ngượng ngập, và hai cha con cùng ngước nhìn ngôi nhà. Đó là một tòa nhà hiện đại, chẳng có nét gì đặc biệt nổi bật, nhưng mặt tiền màu kem rộng rãi đầy cửa sổ với những ban công có đường nét đẹp. Trên một trong số đó, treo cao hơn ngọn những cây dẻ ngoài quảng trường, tấm bạt che vẫn còn buông xuống, như thể mặt trời vừa mới rời khỏi đó. 'Không biết tầng mấy nhỉ?' Dallas nói; rồi cậu bước lại gần cổng xe, thò đầu vào phòng người gác cổng, quay ra bảo: 'Tầng năm ba ạ. Chắc là cái ban công có bạt che kia.' Archer đứng bất động, ngước nhìn những khung cửa sổ trên cao như người vừa đi tới cuối một cuộc hành hương. 'Ba ơi, sắp sáu giờ rồi,' cuối cùng con trai nhắc ông. Người cha đưa mắt về phía chiếc ghế dài trống dưới tán cây. 'Ba nghĩ ba sẽ ngồi đó một lát,' ông nói. 'Sao ạ? Ba thấy trong người không khỏe à?' người con ngạc nhiên hỏi. 'Không, không sao cả. Nhưng ba muốn con lên một mình.' Dallas đứng khựng trước mặt cha, bối rối. 'Nhưng ba, ba thật sự không định lên sao?' 'Ba cũng không biết nữa,' Archer chậm rãi đáp. 'Ba không lên thì bà ấy sẽ không hiểu đâu.' 'Con cứ lên đi. Có lẽ ba sẽ lên theo.'
Dallas nhìn cha thật lâu trong ánh chiều nhá nhem. 'Nhưng lên đó con biết nói gì?' 'Bạn của ba ơi, con thì lúc nào chẳng biết phải nói gì,' người cha mỉm cười đáp. 'Được thôi. Con sẽ nói rằng ba cổ hủ, ghét thang máy nên thích đi bộ lên năm tầng.' Người cha lại mỉm cười. 'Cứ nói ba cổ hủ. Thế là đủ.' Dallas nhìn cha thêm một lần nữa, rồi làm một cử chỉ như không thể tin nổi và khuất sau vòm cổng. Archer ngồi xuống ghế và tiếp tục ngước nhìn cái ban công có bạt che. Ông tính xem con trai sẽ mất bao lâu để đi thang máy lên tầng năm, bấm chuông, bước vào hành lang rồi được dẫn vào phòng khách. Ông hình dung Dallas bước vào căn phòng ấy với dáng đi tự tin và nụ cười duyên dáng, và tự hỏi liệu những người nói con trai ông 'giống ông' có đúng không. Ông thử hình dung những người đã có mặt trong phòng. Vào giờ thăm viếng này hẳn có vài người, và trong số đó sẽ có một người đàn bà xanh xao, tóc đen, ngẩng nhanh đầu lên, nhổm dậy nửa chừng và chìa ra bàn tay dài mảnh đeo ba chiếc nhẫn... Ông nghĩ nàng sẽ ngồi ở góc ghế dài cạnh lò sưởi, còn trên bàn phía sau là những đóa đỗ quyên.
'Với ta, ngồi lại đây thật hơn là lên trên kia,' bỗng ông nghe chính mình lẩm bẩm. Và vì sợ cái bóng cuối cùng của thực tại ấy tan biến mất, ông cứ ngồi yên trên ghế trong lúc từng phút trôi qua. Ông ngồi đó rất lâu, trong bóng tối mỗi lúc một dày, mắt không rời khỏi ban công. Cuối cùng ánh đèn hiện lên sau khung cửa sổ, và ít lâu sau một người hầu bước ra ban công, cuốn tấm bạt che lại và đóng cánh chớp. Như thể đó chính là tín hiệu ông chờ đợi, Newland Archer chậm rãi đứng dậy và một mình đi bộ về khách sạn.